Luật tạng

GIỚI LUẬT PHÁP YẾU (Tiếp theo)

II. TRÌ GIỚI VÀ PHẠM GIỚI

1. Trì Phạm là gì?

            Sách Tư Trì Ký viết: "Trì Phạm danh nghĩa: Trì nghĩa là chấp trì, Phạm nghĩa là xâm phạm, đều từ chỗ thụ giới mà có tên gọi như vậy". (Đại Chính Q40 Tr 331b).

            Hành Sự Sao viết: "Luật tông chỉ bàn đến Trì - Phạm, hành tướng của Trì - Phạm rất sâu xa".(Đại Chính Q40 Tr 91a). Sách Tư Trì Ký giải thích rằng: "Nói chỉ bàn" ở đây có hai cách giải thích:  Nếu nương vào Thể mà khởi Hành, Hành có trái - thuận, liền phân ra Trì Phạm. Cơ duyên không phải chỉ một, chế giới nhiều như trần sa nhiếp làm Năng thuyên gọi là Tỳ Ni Tạng. Xét bản ý chế giới không riêng, ở đây thông với giáo nghĩa giải thích. Lại nữa, trong luật Tứ Phần trước nêu Giới bản của Tăng Ni gọi là Chỉ trì, đổi lại thành Tác phạm. Hai mươi kiền độ ở sau gọi là Tác trì, trái thì gọi là Chỉ phạm" (Đại Chính Q40 Tr 331b).

2. Thể của Trì Phạm.

            Giới Sớ ghi: "Nói hay trì giới: Tức lấy tâm làm thể, thân - khẩu là công cụ, không gọi là nghiệp. Nếu chẳng suy nghĩ, không thành Trì Phạm" (Tục Tạng Q62 Tr 229). Lại nói "Cho nên Thành Thực luận cho rằng: ba thứ nghiệp này đều chỉ là Tâm, lìa tâm không suy nghĩ, không có nghiệp thân khẩu. Thân khẩu là công cụ tạo thiện - ác, không phải thể của thiện - ác". Hành Tông Ký giải thích rằng: "Nói tâm ở đây lầ chỉ cho ý thức, do thông với bốn ấm (Thụ - Tưởng - Hành - Thức). Nếu căn cứ tạo thành nghiệp phải do Tâm Hành. Hành tức ý tư, do suy nghĩ (tư) thì tâm phát khởi, hai nghiệp thân khẩu lại do suy nghĩ (tư) mà hình thành. Nay từ gốc nghiệp cho nên nói là Tâm vậy". (Tục Tạng Q62 Tr 330).

3. Công năng của giới tướng.

            Hành Tông Ký có ghi: "Nói đến Giới bản là nêu bày giới tướng, là chỉ con đường đi, khiến cho thấy tướng phạm rõ ràng thì tâm trì giới dễ thành tựu" (Tục Tạng Q62 Tr 163).

4. Chỉ trì - Tác trì.

            Hành Tông Ký có ghi: " Việc có hai loại. Chỉ - Tác hai đường. Chỉ thì xa lìa điều phi pháp, Tác thì làm điều thiện. Thực hành hai điều này liền thành hai môn Chỉ trì và Tác trì". (Tục Tạng Q62 Tr 163).

5. Phạm trọng giới - Bất cộng trụ.

            Thập Luân kinh có  chép: "Phật dạy: Này Ưu Ba Ly, ví như biển lớn không dung chứa tử thi, trong chúng đệ tử Thanh Văn của ta đây cũng lại như vậy, không sống chung với Tỷ khiêu (Tử thi) phá giới ác hạnh". (Đại Chính Q13 Tr 739).

6. Trì giới phúc điền - Phá giới hư thụ.

            Trong kinh Đại Tập, phẩm Hộ Pháp có chép: "Nếu vô lượng Tăng đều phá cấm giới, chỉ cần có năm Tỷ khiêu thanh tịnh như pháp, nếu có người cúng dàng được phúc chẳng thể tính đếm. Bởi vì sao? Vì có hộ trì Phật Pháp, vì thương xót hết thảy chúng sinh, vì tâm họ bình đẳng không có hai tướng. Tỷ khiêu phá giới tuy ở trong chúng, nhận của tín thí không được an lạc. Bởi vì sao? Vì phá giới cấm, vì không như pháp. Những người như thế, hết thảy mười phương chư Phật đều không hộ niệm. Tuy gọi là Tỷ khiêu nhưng không ở trong Tăng số. Bởi vì sao? Vì họ đã nhập vào cảnh giới ma. Người  giữ gìn giới cấm là đệ tử Phật. Kẻ hủy phạm giới cấm là đệ tử của Ma. Ta đều không cho phép người hủy phạm giới cấm nhận của tín thí. Bởi vì sao? Vì người này đã xa lìa giáo pháp của Như Lai". (Đại Chính Q31.Tr 215b)

7. Nên nghiêm trì giới luật đã thụ.

            Trong kinh Bản Sự có chép: "Xuất gia mà phá giới cả hai thứ đều không thành tựu. Nghĩa là mất đi hình nghi của người tại gia, và phá hoại Pháp của Phật. Thà nuốt hòn sắt nóng, nước đồng sôi rót miệng, không được nhận sự cúng dàng của tín thí mà hủy phạm giới luật. Kẻ hủy phạm giới luật chẳng biết ăn năn, không có tàm quý nhận nhiều của tín thí nhất định sẽ đọa Địa ngục. Những người có trí tuệ phải nên kiên trì tịnh giới. Chớ nhận của tín thí mà hủy phạm giới luật". (Đại Chính Q17. Tr682b).

8. Không tu giới hạnh hủy diệt Phật Pháp.

            Trong kinh Sự Biến Đổi Đương Lai có chép: "Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỷ khiêu rằng: Vào đời sau này, sẽ có Tỷ khiêu nhân có một pháp không theo Pháp hóa, khiến Pháp hủy diệt, không được lâu dài. Thế nào là một? Không hộ trì giới cấm, chẳng hay giữ tâm, không tu trí tuệ, phóng dật tâm ý, chỉ cầu danh lợi, chẳng thuận đạo giáo, chẳng chịu cần khổ làm việc độ sinh, đó là một việc khiến Phật Pháp bị hủy diệt.

            Phật lại bảo các Tỷ khiêu: lại có hai việc khiến Pháp hoại diệt. Thế nào là hai? Một là không hộ trì giới cấm, không thu nhiếp tâm ý, không tu trí tuệ, lấy vợ nuôi con, phóng túng tâm ý, buôn bán mưu sinh để cùng chung sống. Hai là kết bè hợp đảng, có Tỷ khiêu phụng hành giáo pháp lại tìm cách hãm hại, nói năng xiểm khúc nịnh bợ, trong phạm ác hạnh, ngoài giả trong sạch. Hai việc này khiến Phật Pháp hủy diệt". (Đại Chính Q12. Tr1118).

9. Quả báo sai khác của Thụ giới, Trì  giới - Hủy giới.

            Kinh Chính Pháp Niệm Xứ có ghi: "Có người giới cấu nhiễm mà sinh cõi Trời (nghĩa là thân khẩu tuy không phạm giới nhưng nghĩ tưởng dục, muốn làm việc phá giới). Có người giới không cấu nhiễm đến được Niết Bàn (Nghĩa là giữ  gìn các căn, giới pháp thành tựu, một niệm tương ứng phá Kiến - Tư hoặc, Trần Sa hoặc, Vô Minh hoặc chứng được Thánh quả trong Tam thừa). Thế gian giới thì có lưu động (như Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín, không ra khỏi lục đạo luân hồi). Xuất thế gian giới thì không lưu động (Phật vì hàng Tam thừa chế định giới luật, diệt trừ ba loại phiền não, hai thứ sinh tử).

            Lại nói: Nếu có ý thụ trì  giới thì Giới sư mới nên trao giới (người thụ giới phải phát tâm có ý nguyện thụ trì, sau khi thụ giới phải kiên trì giữ gìn dù phải hy sinh tính mạng cũng không được hủy phạm giới). Người trao giới (Giới sư) phải đầy đủ giới mới có thể trao giới cho người được. Do từ nơi Thầy được  gọi là Thụ, tự mình thanh tịnh gọi là Trì. Vô tâm, giả dối thụ giới sẽ đọa vào Địa ngục (người thụ giới trước không phát nguyện, thụ rồi không trì vì không có chí nguyện nên hủy giới đọa khổ). (Đại Chính Q17. Tr 142c).

10. Phá giới ô nhục nhà Phật.

            Đại sư Ngẫu Ích nói: "Nếu thụ giới của Phật mà chẳng hay giữ gìn là coi thường chư Phật, là ô nhục nhà Phật. Bởi vì sao? Vì khi thụ giới là sinh trong nhà Phật, phá giới là coi thường chư Phật, gọi là ô nhục nhà Phật.

            Hai thứ trói buộc: 1. Chấp vào các kiến thức sai lầm; 2. Tham đắm danh lợi.

            Hai thứ chướng pháp: 1. Thân cận Bạch y; 2. Xa lìa người thiện.

            Hai pháp cấu nhiễm: 1. Nhẫn chịu các phiền não; 2. Ưa thích tại gia.

            Hai pháp ung nhọt: 1. Tìm bới lỗi người; 2. Che giấu lỗi mình.

            Hai pháp hố sâu: 1. Hủy hoại chính pháp; 2. Phá giới nhận sự cúng dàng.

            Hai pháp thiêu đốt: 1. Dùng tâm uế trược mà mặc Ca sa; 2. Để người tịnh giới phục vụ cho mình". (Ngẫu Ích Đại sư toàn tập. Q3. Tr1926)

11. Duyên khởi tội phạm giới.

            Đại sư Ngẫu Ích nói: Duyên khởi tội phạm giới có 4 nguyên nhân:

            1. Vô tri (không học, không biết giới luật)

            2. Phóng dật (buông lung phóng túng)

            3. Phiền não trói buộc

            4. Không có tâm cung kính.

            (Ngẫu Ích Đại sư toàn tập. Q3. Tr 1938)

12. Thà xả thân mạng không được phá giới.

            Đại Thừa Giới kinh có ghi: Nếu các Tỷ khiêu, ở trong Phật pháp tìm cầu giải thoát, phải xa lìa hết thảy các ác pháp khổ não. Như chỗ Phật dạy: Thà xả thân mệnh mà phải chết chứ không được buông lòng phá hủy giới luật đã thụ. Nếu người xả bỏ mạng sống chỉ hoại một đời, nếu như phá giới khiến trăm ngàn vạn đời chìm đắm đường ác. Nếu người trì giới thường được thấy Phật. Giới là tối thượng trang nghiêm, Giới là tối thượng diệu hương, Giới là hoan hỷ thắng nhân. Giới thể thanh tịnh như nước trong mát, hay trừ nóng bức. Trì giới được tiếng thơm, trì  giới được an lạc.

            Phật dạy: "Tỷ khiêu! Nếu phạm luật nghi, ví như người mù không thể đi được, xa lìa Niết Bàn, chẳng đến bờ bên kia. Nếu người trì giới thành tựu hết thảy Pháp bảo. Nếu phá luật nghi, thì bỏ hết thảy thiện pháp. Phật dạy: Tỷ khiêu!  Người nữ không đáng tin, không thể thân gần. Ơn vua tuy tốt chẳng thể cậy nhờ, bọt nước không thật chẳng thể cầm nắm. Phú quý vô thường, chẳng thể lâu dài, sắc tướng như hoa thay đổi chốc lát. Thọ mạng như quả chín, chẳng để được lâu. Thà uống thuốc độc, chẳng được uống rượu, thà vào lửa lớn, chẳng được dâm dật". (Đại Chính Q14. Tr 1104a).

13. Phạm bảy loại tội đến đọa Địa ngục Vô gián.

            Kinh Quán Phật Tam Muội có ghi: "Có bảy thứ tội, mỗi mỗi trải qua tám vạn bốn ngàn kiếp vào địa ngục A Tỳ:

            1. Hủy báng không có mười phương chư Phật. (Mất chỗ nương tựa của chúng sinh).

            2. Đoạn học Bát Nhã. (Ngăn lấp trí tuệ giải thoát).

            3. Không tin nhân quả

            4. Dùng vật của Tăng, cực trọng hơn vật của Tam Bảo.

            5. Phạm tội trọng mà ăn dùng của tín thí.

            (Hai điểm này đều là trộm cắp, Tăng vật nặng hơn của vật của Tam Bảo. Tăng vật có bốn. Nay chọn Thường trụ, Thường trụ là tối trọng. Người có lòng tin dâng cúng nên gọi là Tín thí. Phạm trọng tội thì không phải là Tăng, ăn dùng thì phạm tội ăn trộm).

            6. Ô phạm Tỷ khiêu ni

            7. Đối với lục thân làm việc bất tịnh.

            Thỉnh đem bảy lỗi này đối chiếu với thân tâm, thoảng từng có phạm, sao chẳng lo sợ ư?". (Đại Chính Q40. Tr 96c)

14. Phạm trọng giới thụ nhận của Tín thí đọa vào địa ngục A Tỳ.

            Phật Tạng kinh có chép: "Này Xá Lợi Phất, nay Ta nói với ông rằng: Nếu người nào một ngày giết hại trăm ngàn vạn ức chúng sinh; một ngày trộm cắp trăm ngàn vạn ức kim ngân bảo vật; kẻ tà dâm ngày đêm không chừng, kẻ nói dối thường lừa gạt người; khẩu nghiệp không trong sạch không lấy một lời nói thật; kẻ lưỡng thiệt thường phá hòa hợp, cũng trợ giúp người phá hòa hợp; kẻ ác khẩu miệng thường ác nghịch, cho đến chẳng nói được một lời mềm mỏng. Kẻ nói thêu dệt không có căn cứ, người hỏi việc này, lại dùng vô lượng lời nói để nhiễu loạn; kẻ tham tật, đối với vật của người sinh tâm phi pháp, kẻ sân khuể, không có nhân duyên cũng hoành hành phát khởi sân giận, tức giận đầy lòng; kẻ tà kiến ưa làm việc trái đạo. Xá Lợi Phất! Ý ông thế nào? Nếu người nào thành tựu các pháp bất thiện như thế, tội là bao nhiêu? Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều. Xá  Lợi Phất! Nay Ta nói với ông rằng: Nếu người trăm năm thành tựu pháp bất thiện, Tỷ khiêu phá  giới một ngày một đêm nhận sự cúng dàng của người thì tội nặng hơn kẻ kia". (Đại Chính Q15. Tr 791c).

15. Tài vật của Tam Bảo khó quản lý.

            Đạo Giới Thích Tướng Khái Lược có ghi: "Hỏi: Quản lý tài vật của Tam Bảo, phải là người như thế nào? Đáp: Sự Sao dẫn kinh Bảo Lương và Đại Tập rằng: vật của Tăng rất khó quản lý,  Phật Pháp không có chủ, Ta cho phép hai hạng người quản lý vật của Tam Bảo: một là A La Hán; hai là Tu Đà Hoàn. Sở dĩ như vậy là vì các Tỷ khiêu khác giới không đầy đủ, tâm không bình đẳng, chẳng nên sai những người như thế là Tri sự. Lại có hai hạng người: một là hay giữ giới trong sạch, hiểu biết nghiệp báo; hai là sợ tội đời sau có tâm tàm quý và tâm hối lỗi. Hai hạng người như thế tự không có ung nhọt. Sự Sao lại nói rằng: Nếu chẳng hiểu rành Luật tạng, khéo thông hiểu lấy dùng, mà dùng tư tâm xử lý đa phần đều thành tội trộm cắp". (Hoằng Nhất Luật Sư Toàn Tập. Q2. Tr 147).

16. Tướng mạo của người phá giới.

            Sách Tư Trì Ký dẫn kinh Đại Phương Đẳng Nhật Tạng rằng: "Đức Phật bảo vua Tần Bà Sa La rằng: Tướng trạng của người phá  giới đó là không thích cúng dàng Tam Bảo, Hòa thượng, A xà lê, cũng không tín trọng, cho đến thường tham đắm các việc lợi dưỡng, tiếng tăm. Cũng ăn trộm các vật của chúng Tăng, là tướng phá giới, mất đi pháp của Tỷ khiêu, phải nên tẩn xuất. Người phá giới không biết hổ thẹn, dùng tâm trộm cướp lấy dùng của Tam Bảo, chiếm dụng của Tăng làm vật của mình. Tỷ khiêu như pháp phải nên đuổi họ ra khỏi chúng. Nếu không chịu ra, phải báo cáo với nhà vua, người có thế lực trục xuất họ ra khỏi Tăng đoàn". (Đại Chính. Q40. Tr 278a)

17. Ăn trộm vật của Tăng tội rất nặng.

            Hành Sự Sao có ghi: "Song tội trộm cướp thông cả Tam Bảo, vật của Tăng thì rất nặng, tuy tổn thất chỉ một sợi lông nhưng đối với thập phương phàm - Thánh Tăng mỗi mỗi kết tội. Cho nên trong các bộ Ngũ Phần..v.v. thấy nhiều người mang vật cúng Phật, Phật đều dạy rằng: Nên cúng cho Tăng, cúng Tăng được quả báo lớn (vì Phật cũng ở trong Tăng thụ lợi dưỡng). Trong kinh Phương Đẳng có nói: "Phạm tội tứ trọng ngũ nghịch, ta cũng có thể cứu được, kẻ ăn trộm vật của Tăng, Ta chẳng thể cứu". Trong kinh Ngũ Bách Vấn nói: " Nợ vật của Phật Pháp Tăng ví dù có bồi thường, vào địa ngục A Tỳ mà sớm được ra, huống kẻ không bồi thường thì vĩnh viễn không có ngày ra".

18. Ba nhân duyên thoái thiện đạo.

            Trong kinh có chép: "Tôi theo Thế Tôn nghe lời như thế này: Tỷ khiêu nên biết có ba nhân ba duyên khiến các hữu tình mong cầu lợi dưỡng sinh nhiều tội lỗi. Những gì là ba? 1. Tham dục là nhân, là duyên khiến các hữu tình mong cầu lợi dưỡng sinh nhiều tội lỗi; 2. Đam trước là nhân, là duyên khiến các hữu tình mong cầu danh lợi sinh nhiều tội lỗi; 3. Thụ dụng không thấy tội lỗi là nhân, là duyên khiến các hữu tình mong cầu danh lợi sinh nhiều tội lỗi. Tỷ khiêu các ông! Chẳng nên sinh khởi ba nhân ba duyên này, mong cầu lợi dưỡng sinh nhiều tội lỗi. Có các Tỷ khiêu đầy đủ cả ba nhân ba duyên như đã nói, đến nhà thí chủ cầu được nhiều lợi dưỡng. Hoặc khi nhà ấy gặp phải tai họa, thấy rồi bỏ mặc chẳng cung kính thưa hỏi, chẳng đứng dậy đón chào, không mời ngồi, không nói chuyện. Tỷ khiêu ấy thấy như thế, liền nghĩ rằng: Nhà thí chủ này thường kính đãi mình, ai đã xúc xiểm gây nên chuyện này. Do nhân duyên ấy liền đến chỗ kia, không nhẫn không vui khởi tâm giận hại, hoặc phát khởi nghiệp bất thiện nơi thân, ngữ. Vì thế đọa vào các nẻo ác chịu quả báo không vui. Tỷ khiêu nên biết! Ta quán thế gian, các loài hữu tình, hoặc do lợi dưỡng nhiễu loạn tâm ý, thân hoại mạng chung đọa các nẻo ác, sinh trong địa ngục chịu quả báo không ưa thích. Ta quán thế gian, các loài hữu tình, hoặc do suy tổn nhiễu loạn tâm ý, thân hoại mạng chung đọa các nẻo ác, sinh trong địa ngục chịu quả báo không ưa thích. Ta quán thế gian, các loài hữu tình hoặc do lợi dưỡng và do suy tổn nhiễu loạn tâm ý, thân hoại mạng chung đọa các nẻo ác, sinh trong địa ngục chịu quả báo không ưa thích. Vì sao vậy? Ngu si phàm phu bị các lợi dưỡng, trước phá các màng mỏng trên da, đã phá màng mỏng trên da rồi, liền phá đến da, đã phá đến da rồi, lại phá đến thịt, đã phá đến thịt rồi, lại phá đến gân mạch, đã phá đến gân mạch rồi, lại phá đến xương, đã phá đến xương rồi lại phá đến tủy não, sau đó mới thôi. Vì thế Tỷ khiêu các ông nên học như thế này: Ta nên làm thế nào không bị lợi dưỡng nhiễu loạn tâm ý; Ta nên làm thế nào không bị suy tổn nhiễu loạn tâm ý; Ta nên làm thế nào không bị lợi dưỡng và suy tổn nhiễu loạn tâm ý? Nên ở chỗ vắng lặng siêng tu Thánh đạo, tốc chứng Niết Bàn vô thượng Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Này các Tỷ khiêu nên học như thế! Bấy giờ Thế Tôn trùng tuyên kệ rằng:

Do ba thứ nhân duyên

Mong cầu các lợi dưỡng

Hoại thứ thứ công đức

Và mất quả Trời người

Có những người thông minh

Gặp lợi dưỡng, suy tổn

Tâm họ khéo an định

Bất động như Tu Di

Thường tĩnh lặng an nhiên

Chính quán các pháp nghĩa

Sâu tu trí tuệ sinh

Chứng Thường Lạc Niết Bàn.

19. Xử phạt tội trọng phạm giới Dâm.

            Phạm Võng Giới Sớ dẫn Đại Trí Độ Luận rằng: "Dâm dục tuy không não hại chúng sinh nhưng vì tâm trói buộc (bất tịnh, sinh tử) nên phạm đại tội". Lại nói: "Phá giới dâm ước có năm loại: một là vừa phạm liền sinh sợ hãi lập tức sám hối vĩnh viễn đoạn trừ; hai là phạm một vài lần sau đó sám hối đoạn trừ; ba là thường phạm thường sám hối liên miên không dứt; bốn là vi phạm liên tục suốt đời không thay đổi; năm là: cho là phạm không có lỗi, không có tâm trì  giới, không có ý sám hối, cho đến hết đời. Như trên đều là trước nhẹ sau nặng nên biết". (Đại Chính. Q40. Tr621c)

            Phạm giới có ba cách trị phạt. Một là phạm tội nhẹ thì nên quở trách; Hai là phạm tội vừa thì nên trị phạt; Ba là phạm tội nặng thì tẩn xuất.

            Ngày nay các chùa Tăng số không nhiều, không thành Tăng. Ví dù có bốn Tỷ khiêu (Ni) trở lên không biết pháp luật cũng không thành Tăng. Nếu tạo thành tội phạm giới Dâm - Đạo… đều do không có tâm cung kính Phật, Pháp, Tăng và giới ở trong Già lam phóng túng làm việc dâm dật thì tội đại cực ác trọng.

            Phật chế Tỷ khiêu (Ni) phạm giới trọng, bốn chúng đệ tử phải có trách nhiệm tẩn xuất kẻ đó ra khỏi Phật Pháp, mà bốn chúng đệ tử không biết, cũng không có lực lượng, nếu kẻ phạm giới thô ác, nên hướng đến Quốc Vương, Đại thần để nói, đem kẻ phạm giới xấu ác ấy trục xuất ra khỏi nước đến chỗ không có Phật Pháp.

            Phép chặt cây phải đoạn tận gốc rễ, các chùa viện phải nên đề phòng, cảnh phạm là người nữ (nam) đến chùa không nên cho vào phòng riêng. Nếu để cho họ vào tâm - cảnh đủ duyên sẽ thành vi phạm. Lại có các chùa Tăng Ni ở chung, hoặc xây nhà cho nam nữ tại gia đến ngủ qua đêm, đây là một việc sai lầm, họ hoàn toàn gánh trách nhiệm phá hoại Phật Pháp, vì kẻ phàm phu có đủe phiền não dâm tùy miên ẩn tàng trong tâm thức, nếu tiếp cận với cảnh duyên nữ sắc (nam) tâm tham dục không biết tàm quý phát sinh liền thành phạm giới.

20. Lợi ích của trì giới.

            Kinh Đại Bảo Tích có chép: "Giữ giới mười thiện nghiệp có 5 việc lợi ích: 1. Hay ngăn ngừa ác hạnh; 2. Hay phát khởi thiện tâm; 3. Hay ngăn đoạn phiền não; 4. Thành tựu tâm thanh tịnh; 5. Hay tăng trưởng giới. Nếu người khéo tu tập không phóng dật thì tám vạn bốn ngàn vô lượng giới phẩm đều có đầy đủ trong mười thiện giới này".

            Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội chép: "Nếu có Bồ Tát hày trì tịnh giới có mười điều lợi ích. Những gì là mười? 1. Đầy đủ Nhất Thiết Trí; 2. Như chỗ Phật học mà học; 3. Người trí tán thán; 4. Không trái chí nguyện; 5. An trụ nơi hành; 6. Buông xả sinh tử; 7. Hâm mộ Niết Bàn; 8. Tâm không trói buộc; 9. Được Tam muội thù thắng; 10. Đầy đủ Thánh tài". (Đại Chính. Q15. Tr 584a)

            Lục Độ Tập kinh có chép: "Lại có bốn loại trì  giới đầy đủ trí tuệ, thế nào là bốn? 1. Trì giới thường diễn thuyết kinh pháp; 2. Trì giới thường siêng cầu pháp; 3. Trì giới phân biệt được chính pháp - tà pháp; 4. Trì giới hồi hướng Bồ Đề".

21. Thụ giới - Kính trọng giữ gìn lìa khổ được vui.

            Ba cõi không yên, giống như nhà lửa. Dứt khổ được vui ắt nên sùng kính giới. Trong kinh có nhiều thí dụ, nay lược nêu một vài. Giới dụ như hai chân có thể đi xa được, giới dụ cho đất bằng, nâng đỡ tất cả vật; giới dụ cho mưa đúng thời làm vạn vật sinh trưởng; Giới dụ cho thuốc hay, cứu chữa các bệnh tật; Giới dụ cho cam lộ hay tiêu trừ đói khát; Giới dụ cho cầu đò cứu giúp người chìm đắm; Giới dụ cho phao nổi giúp vượt qua biển lớn; Giới dụ cho đèn sáng, chiếu phá mọi tối tăm. Thánh giới có tác dụng phòng phi chỉ ác, quy hướng giới luật trang nghiêm pháp thân… các dụ như thế vô lượng vô biên, há chẳng kính trọng giới ư? Hãy kính cẩn phụng trì.

            Kinh Niết Bàn có ghi: "Muốn thấy Phật tính, chứng Đại Niết Bàn, phải nên thân tâm tu trì tịnh giới. Nếu hủy tịnh giới là quyến thuộc của ma, không phải đệ tử của Ta".

            Trong kinh Đại Phẩm có  ghi: "Nếu Ta không trì giới sẽ đọa trong ba đường ác, ngay thân người còn không thể có, huống chi thành tựu chúng sinh, thanh tịnh cõi Phật, đủ Nhất Thiết Trí được ư?"

            Đại Trí Độ luận có ghi: "Nếu muốn lợi ích lớn, phải kiên trì giới luật, như tiếc của báu, như giữ thân mạng. Vì giới là trụ xứ của hết thảy thiện pháp. Nếu hay trì giới, hương giới bay xa, tiếng thơm đồn khắp, trời người yêu kính, sở nguyện đều được. Người mà giữ giới đến lúc lâm chung, gió nghiệp thổi đến, gân mạch đoạn tuyệt, tâm không sợ hãi". (Đại Chính. Q25. Tr 153b)

            Kinh Trì Địa nói: "Ba mươi hai tướng tốt, không có nhân nào khác, đều do trì giới mà có được".

            Thành Thực luận có chép: "Lâu gác đạo phẩm lấy giới làm cột trụ. Thành trì Thiền định lấy giới làm quách (thành ngoài). Qua sông sinh tử lấy giới làm cầu đò. Vào chúng thiện nhân lấy giới làm con dấu". (Đại Chính. Q32. Tr 351b)

22. Trì giới sinh giới.

            Đại Trí Độ luận có ghi: "Lại nữa Bồ Tát trì giới, tâm ưa thiện thanh tịnh; không vì sợ ác đạo, cũng không vì sinh Thiên, chỉ cầu thiện thanh tịnh. Lấy giới để huân tập tâm khiến tâm ưa điều thiện, đó là Trì giới ba la mật. Lại nữa Bồ Tát lấy tâm đại bi để trì giới, đến được Phật đạo, đó là Trì giới ba la mật. Lại nữa Bồ Tát trì giới hay sinh Lục Ba la mật, thì đó gọi là Trì giới ba la mật. Thế nào gọi là trì giới hay sinh giới? Nhân 5 giới được giới Sa Di, nhân giới Sa Di được giới luật nghi; nhân giới luật nghi được giới thiền định; nhân giới thiền định được giới vô lậu, đó là trì giới sinh giới. Lại nữa! Người trì giới hay dùng tinh tiến tự chế ngự tâm tình, không thụ 5 dục. Nếu tâm buông lung hay nhiếp trở lại, đó là trì giới hay hộ trì các căn, các căn được hộ trì thì sinh Thiền định, có Thiền định hay sinh Trí tuệ, sinh Trí tuệ thì đến được Phật quả, đó là trì giới sinh Ba la mật vậy". (Đại Chính. Q25. Tr 162 - 163)

            Lại nữa Bồ Tát trì giới vì Phật đạo nên phát đại thệ nguyện độ hết chúng sinh, không cầu an vui đời này đời sau cho riêng mình, không vì hư danh lợi dưỡng, cũng không tự vì sớm vào Niết Bàn, chỉ vì chúng sinh chìm đắm lâu dài, bị ân ái lừa gạt, bị ngu hoặc nhầm lẫn, ta nên độ cho chúng khiến đến bờ giải thoát. Một lòng trì giới vì sinh cõi lành được sinh cõi lành thấy được thiện nhân, do thấy thiện nhân mà sinh trí tuệ, do sinh trí tuệ được lục ba la mật, được Phật đạo. Như thế trì  giới gọi là ba la mật. (Đại Chính. Q25. Tr 162a).

23. Hủy giới có 5 lỗi.

            Trong luật Tứ Phần có nói: Phá giới có 5 lỗi: 1. Tự hại mình; 2. Bị người trí chê trách; 3. Tiếng xấu đồn khắp; 4. Lâm chung sinh hối hận; 5. Chết đọa ác đạo.

            Trong kinh Sư Tử Nguyệt Phật Bản Sinh có ghi: " Bấy giờ Thế Tôn nói kệ rằng:

Giới là thuốc cam lộ

Uống vào không già chết

Giới đức chỗ tựa nương

Phúc báo thường theo mình

Trì giới được yên ổn

Sinh chỗ không hoạn nạn

Cũng sẽ thấy chư Phật

Học đạo được giải thoát

Phá giới đọa địa ngục

Giống như khỉ vượn này

Chỗ sinh thường thấp kém

Địa ngục khổ bức bách

Đại chúng nên lắng nghe

Dừng ác tu các thiện".

(Đại Chính. Q3. Tr 445c)

24. Phạm trọng giới hư thụ tín thí.

            Chư Kinh Tập Yếu có ghi: "Lại có chúng sinh phạm bốn giới trọng (Dâm, Đạo, Sát, Vọng) giả dối nhận của tín thí học hỏi tà kiến, không biết nhân quả, đoạn học Bát Nhã hủy mười phương Phật, trộm vật của thập phương Tăng, dâm dục vô đạo, bức phạm Tỷ khiêu ni tịnh giới, chị em thân thích, không biết hổ thẹn, hủy nhục cha mẹ, tạo các việc ác. Người này tội báo đến khi lâm chung, gió nghiệp xẻ thân, ngay lúc bấy giờ thân như hoa sắt đủ mười tám ngăn, mỗi hoa có tám vạn bốn ngàn cánh, trong mỗi cánh hoa đầu thân chân tay đều ở trong từng ngăn, địa ngục không lớn thây này không nhỏ, biến mãn khắp trong địa ngục, như thế trải qua tám vạn bốn ngàn đại kiếp, địa ngục này tiêu diệt, lại vào trong 18 ngăn ở phương Đông chịu khổ như trước. Địa ngục A Tỳ này các phương Tây, Nam, Bắc đều phải trải qua 18 ngăn". (Đại Chính. Q54. Tr 173)

25. Phá trọng giới - khổ, sâu sắc sám hối.

            Đại Trí Độ luận có ghi: "Người phá giới cấm, chẳng thể sống chung, giống như giặc cướp, khó thể thân gần. Người phá giới khó thể sống chung, ví như rắn độc. Người phá giới tuy tương tự Tỷ khiêu mà chẳng phải Tỷ khiêu, ví như tử thi ở trong biển lớn. Người phá giới giống như đá sỏi để lẫn trân châu, ví như Y Lan  trong vườn Chiên Đàn. Người phá giới nếu mặc pháp phục (ca sa) thì đó là tấm sắt tấm đồng nóng quấn trên thân thể; Nếu cầm bình bát thì là đựng nước đồng sôi; nếu có ăn uống thì là nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi. Nếu nhận người cúng dàng, phục vụ tức là ngục tốt trong địa ngục bắt giữ; nếu vào Tinh xá tức đại địa ngục; nếu ngồi giường tòa của chúng Tăng tức là nằm trên giường sắt nóng. Nếu người xuất gia học đạo, quên mất chính niệm, hủy phạm trọng giới, chớ nên che giấu phải nên lập tức phát lộ cầu sám hối. Thiện căn cần giấu như châu ngọc. Phạm giới ác căn cần phơi bày như phân nhơ. Phạm giới là trái với Phật Pháp, phát lộ chỗ phạm giới cầu sám hối tội khổ diệt quả vong là thuận Phật dạy". (Đại Chính. Q 25. Tr 154 b).

26. Giới tịnh khiến Tam Bảo trụ thế.

            Trong kinh có ghi: Hết thảy công đức trợ giúp sự tu hành tóm lại mà nói thì giới là cội gốc, trì giới là căn bản. Nếu không trì giới, thì ngay thân Dã Can ghẻ lở còn không thể được, huống gì được thân công đức ư? Do giới thanh tịnh, không đoạn Phật chủng, thành Đẳng Chính Giác, không đoạn Pháp chủng, phân biệt pháp tính; không đoạn Tăng chủng, tu đạo vô vi. Do trì giới thanh tịnh tương tục không đoạn nên công đức vô tận.

27. Giới thanh tịnh chứng Niết Bàn.

            Trong kinh Bản Sự có chép rằng: "Tôi theo Thế Tôn nghe lời như thế: Tỷ khiêu nên biết, nếu các hữu tình hay biết trì giới, chỗ cảm quả báo, hiện tiền rõ ràng; như chỗ ta thấy, họ với tự thân, rất sinh chán lìa, ưa thích tương lai, kiên trì giới cấm. Vì không hiểu biết, yêu thích tự thân, hủy phạm giới cấm. Bởi vì sao vậy? Người hay trì giới, chiêu cảm cõi lành, tăng thượng phúc lợi, các quả báo vui. Bấy giờ Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Thế gian các hữu tình

Nếu hay biết trì giới

Chiêu cảm quả báo vui

Minh kiến tựa Như Lai

Liền ở thân bất tịnh

Rất hay sinh chán lìa

Cầu thắng quả đương lai

Kiên trì giới thanh tịnh

Do không biết trì giới

Hay cảm vui cõi lành

Minh kiến tựa Như Lai

Nên hủy phạm tịnh giới

Có những người trì giới

Được sinh ở cõi lành

Hưởng vui sướng cõi trời

Chứng Vô thượng Niết Bàn".

(Đại Chính. Q 17. Tr 671b)

28. Nói dối chịu khổ báo.

            Hành Tông Ký ghi: "Vọng ngữ là do nương Hoặc khởi Nghiệp; Vô minh là Hoặc, giả dối lừa gạt là Nghiệp". (Tục Tạng. Q 62. Tr 292)

            Chính Pháp Ẩm kinh có bài kệ rằng:

Cam lộ và thuốc độc

Đều ở trong miệng người

Cam lộ là thật ngữ

Vọng ngữ là thuốc độc

Nếu người cần cam lộ

Người kia nói lời thật

Nếu người cần thuốc độc

Người kia nói dối gạt

Độc không nhất định chết

Nói dối thì nhất định

Nếu người nói dối gạt

Kia được lời chết người

Thuốc độc tuy đáng sợ

Chỉ làm chết một đời

Dối gạt ác nghiệp ấy

Trăm ngàn thân bị hại.

Tát Bà Đa luận có bài tụng rằng:

Nói dối khéo gạt người

Địa ngục chịu khổ đau

Dao lửa cắt thân mình

Sắt  nóng cày miệng lưỡi

Rót vào nước đồng sôi

Sắt nóng quấn thân hình

Đau đớn tan xương tủy

Rên xiết suốt đêm ngày.

29. Kệ giáo giới Tỷ khiêu.

Chư Pháp Tập Yếu có ghi:

Trái Tăng già phép tắc

Tâm họ thường lười biếng

Không dũng mãnh tinh tiến

Đó chẳng phải Tỷ khiêu

Phật răn các đệ tử

Chẳng nên chứa chăn đệm

Nếu người ưa lười biếng

Sao có thể an vui

Do một loại lười biếng

Là gốc các tội lỗi

Trôi lăn trong luân hồi

Chịu vô lượng khổ não

Nếu có chút lười biếng

Các điều lành chẳng sinh

Tuy mặc áo ca sa

Đó chẳng phải Tỷ khiêu

Nếu chẳng tu Định Tuệ

Do đâu sạch các lậu

Chỉ giả dạng hình tướng

Đó chẳng phải Tỷ khiêu

Ưa ở yên phòng Tăng

Lìa cảnh giới học pháp

Đắm trước nơi tài sắc

Đó chẳng phải Tỷ khiêu

Nếu dứt ma trói buộc

Xa lìa các nghiệp ác

Chẳng nên cùng hủy phạm

Cùng ở, cùng ăn nói

Lại Tỷ khiêu phá giới

Thụ dụng các ăn uống

Giống như dùng thuốc độc

Uống nước đồng không khác

Do họ không thắng hạnh

Chẳng dự chúng Tỷ khiêu

Sau đọa trong Địa ngục

Đến ăn cũng chẳng được

Nếu đoạn các phiền não

Như rắn ra khỏi phòng

Không thích thấy nữ sắc

Nương chính mệnh khất thực

Vì sao các Tỷ khiêu

Lấy thân làm chỗ chứa

Tạo các nhân ác thú

Hoại tiếng của Tăng bảo

Tham cảnh giới danh lợi

Gần gũi với người nữ

Họ chẳng tục chẳng Tăng

Là giặc trong Phật pháp

Cậy thế lực vua quan

Phóng túng nơi rượu thịt

Vì giả danh Tỷ khiêu

Lừa gạt các thí chủ

Không khéo nhiếp phương tiện

Cùng làm việc thế tục

Thường dựa chốn phố phường

Như rắn ở rừng, hang

Nếu chẳng sinh chán lìa

Niệm niệm thường tăng trưởng

Nên xả dục ái buộc

Ưa sống nơi vắng lặng.

30. Tội bán tượng Phật.

            Ngũ bách vấn sự chép: "Hỏi: Tỷ khiêu bán tượng Phật có tội gì? Đáp: Tội đồng bán cha mẹ. Hỏi? Trước Phật, tháp được lễ Tỷ khiêu không? Đáp: Không được, phạm tội Đọa". (Đại Chính. Q 24. Tr 973c)

31. Tam thừa đồng tu giới.

            Kinh Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn có chép: "Hỏi rằng: Nên nói giới thanh tịnh, không thanh tịnh, thế nào là  giới thanh tịnh? Đáp: có đồng giới thanh tịnh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đồng tu năm thứ giới pháp thanh tịnh nên biết. Thế nào là năm? 1. Căn bản thanh tịnh; 2. Quyến thuộc thanh tịnh; 3. Giác quán bất loạn; 4. Nhiếp thủ niệm; 5. Hồi hướng Niết Bàn.

            Căn bản thanh tịnh là xa lìa căn bản nghiệp đạo tội lỗi, Quyến thuộc thanh tịnh là xa lìa các phương tiện hành như sát sinh…vv. Giác quán bất loạn là xa lìa dục hại, sân khuể…các ác hạnh; Nhiếp thủ niệm là nhiếp thủ niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng… Hồi hướng Niết Bàn là vì Niết Bàn mà hộ trì giới, chẳng vì tử sinh thế gian… Đây là thiểu phận đồng giới…". (Đại Chính. Q26. Tr 256b).

32. Giới là nền tảng của giải thoát.

            Đại Trí Độ luận có ghi: "Lại nữa, người trì giới được sinh cõi người, lại sinh lên cõi trời Dục lạc, cho đến cõi trời Sắc giới, nếu phá sắc tướng sinh cõi Vô sắc. Trì giới thanh tịnh, đoạn các kết sử, được quả A La Hán. Phát đại tâm (Bồ Đề tâm) mà trì giới, thương xót chúng sinh, là vị Bồ Tát. Lại nữa, giới là loại trừ thô ác, thiền là thu nhiếp tế hạnh. Mặt khác, giới nhiếp thân khẩu, thiền chỉ loạn tâm, như người lên tầng gác không có cầu thang chẳng thể lên được. Không có thềm thang giới, thiền chẳng thể được. Lại nữa, người phá giới, gió kết sử phiền não mạnh, trong tâm tán loạn, do tâm tán loạn thì chẳng thể đắc định. Người trì giới, gió phiền não nhẹ, tâm không tán loạn thiền định dễ được. Như vậy, các nhân duyên là vì trì giới sinh thiền định ba la mật". (Đại Chính. Q 25. Tr 163b)

33. Chẳng sống chung với người phá giới.

            Ngẫu Ích Đại Sư Toàn Tập có chép: "Các vị Bồ Tát đối với người phá giới, người chấp mắc tà kiến, người không giữ uy nghi, người hành tà mạng, người nói lời vô nghĩa, người lười biếng, người ưa sinh tử, người trái Bồ Đề, người đắm trước thế tục, tuy thường thương xót mà chẳng sống chung.

            Nghĩ đến giới cấm mà Thế Tôn chế định, nên khởi niệm rằng: Ba đời chư Phật đều học giới này thành Vô thượng đạo, chứng đại Niết Bàn. Biết như thế rồi siêng năng tinh tiến tu học". (Ngẫu Ích Đại Sư Toàn Tập. Q9. Tr 752).

34. Trì giới chứng Phật quả.

            Trong kinh Đại Tát Già Ni Kiền Tử Sở Thuyết có chép: "Bấy giờ Thế Tôn liền dùng kệ tụng tán thán Thi La Ba La Mật rằng:

Muốn lìa các sinh tử

Yên ổn đến Niết Bàn

Hết thảy Như Lai nói

Trì giới tối đệ nhất

Muốn cầu đạo vô thượng

Kiên cố các căn lành

Trì giới ba la mật

Bồ Tát nên tư duy.

Các Bồ Tát như thế

Gọi là người có Trí

Hay nhanh tới bờ kia

Trụ Phật quả Bồ Đề.

(Đại Chính. Q9. Tr 321b)

35. Trì giới công đức thù thắng.

            Trong kinh Hoa Nghiêm có nói: "Giới là cội gốc của Vô thượng Bồ đề, phải nên giữ tịnh giới đầy đủ. Nếu ai hay kiên trì tịnh giới thì được chư Phật tán thán. Giới là con đường an ổn để nhập đạo, siêu việt các các con đường khác". (Đại Chính. Q 40. Tr 5a)

            Kinh Thụy Ứng có nói: "Tham dục dẫn đến già, sân giận dẫn đến bệnh, ngu si dẫn đến chết…". Thụ trì 5 giới phá sinh  già bệnh chết, nếu trì giới không sát sinh phá trừ sân giận, vì sát sinh do sân tâm phát động. Giới không trộm, không dâm phá trừ tham tâm. Giữ giới không nói dối, không uống rượu phá trừ tâm si. Tham, sân, si căn bản phiền não được phá trừ, tùy phiền não theo đó mà diệt. Tham, sân, si và đẳng phần là nguyên nhân của sinh già bệnh chết. Nhân nếu tiêu diệt, quả cũng do đâu mà sinh khởi. Phật khuyên đệ tử kiên trì tịnh giới, chẳng những tự mình liễu thoát sinh tử, cũng hay khiến cho Phật Pháp cửu trụ thế gian.

36. Trì giới thiện bậc nhất.

            Chư Pháp Tập Yếu kinh có ghi:

"Giới là của tối thắng

Như mặt trời chiếu khắp

Nếu người sắp mạng chung

Chỉ giới là bạn hữu.

Nếu người với tịnh giới

Suốt đời hay giữ  gìn

Đến được chỗ bất diệt

Vĩnh tận các khổ đau

Quá khứ các luân hồi

Do ba độc trói buộc

Giới như ánh sáng sạch

Hay phá trừ tăm tối

Giới như chốn Thiên trì

Đầy đủ báu nghiêm sức

Cũng gọi của kiên cố

Lửa, nước không thể loại

Vì thế các Bồ Tát

Với giới từng không phạm

Thường sinh tâm ái kính

Được tối thượng tịch tĩnh.

Nếu gần người trì giới

Như được mặt trời chiếu

Gần gũi người phá giới

Tăng thêm sự si độn

Lìa bất thiện cấu uế

Không nhiệt não mong cầu

Người trì giới như thế

Được chư Phật tán thán

Trì giới đủ phúc tuệ

Đầu, giữa, cuối đều thiện

Phá giới là kẻ ngu

Không khác gì súc sinh

Nếu người trì tịnh giới

Được áo giới che thân

Với giới nếu hủy phạm

Giống như kẻ không áo

Công đức của trì giới

Nhân quả đều thanh tịnh

Được vui thế, xuất thế

Là chỗ Phật ngợi khen

Nếu người không hộ giới

Không đầu, giữa, cuối thiện

Mất lợi ích to lớn

Và tịch tĩnh tối thượng

Trì giới thiện bậc nhất

Bố thí không thể bằng

Của cải có hạn lượng

Giới - công năng vô tận

Do giới đức trang nghiêm

Được mọi người yêu kính

Nên biết chư Như Lai

Nhân giới mà thành Phật

Nếu nương tựa tịnh giới

Như ngồi trên thuyền bè

Hay vận tải mình người

Vượt qua biển Tam giới.

Do giới nước trong mát

Hay gội rửa tâm trí

Hoa vàng Diêm phù đàn

Chư Thiên mang dâng cúng

Nếu người tâm thuần tịnh

Với giới không khuyết lậu

Do giới pháp thanh tịnh

Thường sinh chỗ yên vui

Nếu người không giữ giới

Như tai mắt mù điếc

Với giới không thanh tịnh

Thường sinh chỗ thấp hèn

Thân không giữ tịnh giới

Tâm chẳng ưa chính pháp

Trong ngoài không chỗ chứa

Do đâu miễn nẻo ác

Biết rõ công đức ấy

Chuyên tâm không tạm xả

Là cứu hộ bậc nhất

Không gì sánh bằng giới.

(Quyển 8 - Phẩm Trì giới thứ 22)

37. Phật tính nhờ trì giới mà thấy.

            Trong kinh Niết Bàn có nói: "Hết thảy chúng sinh tuy có Phật tính, cần nhờ trì giới, sau đó mới thấy, nhờ thấy Phật tính, được thành Chính giác".

38. Hủy chính pháp tội trọng.

            Trong Tăng Nhất Tỳ Ni thuộc luật Tứ Phần có chép: "Tỷ khiêu có ba việc hủy diệt chính pháp: 1. Chế định phép tắc trái với điều Phật chế; 2. Những điều Phật chế liền phế bỏ; 3. Không thi hành theo điều Phật chế. Tỷ khiêu cũng có ba việc không diệt chính pháp, nghĩa là trái với ba điều trên.

Người làm các việc ác, cũng như tử thi kia

Chúng đều không dung nhận, vì thế nên trì  giới".

39. Kiên trì tịnh giới tùy nguyện vãng sinh.

            Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội có nói: "Thà xả bỏ thân mạng của mình, trọn đời không được hủy phạm giới cấm của Như Lai. Hộ trì giới này đến được bờ kia, tùy theo sở nguyện ắt được vãng sinh".

40. Phạm giới trọng không che giấu.

            Hành Sự Sao ghi: "Trong luật Tăng Kỳ có nói: Nếu phạm tội rồi, khóc than không muốn rời Ca sa, sâu ưa Phật Pháp nên cho phép Yết ma học hối". (Đại Chính. Q40. Tr 96c)

            Tỳ Ni Mẫu ghi: "Bạch Tứ yết ma cho sám hối rồi gọi là thanh tịnh trì  giới, chỉ một thân này chẳng được liễu sinh thoát tử, song ngăn không đọa vào Địa ngục. Cho học giới Ba la di rồi, khi Tăng thuyết giới và yết ma đến hay không tùy ý". (Đại Chính. Q 40. Tr 97a)

41. Chớ che giấu tội lỗi của mình, của người.

            Phiền hoặc buộc tâm, không thể không có lỗi. Trong kinh Hư Không Tạng Bồ Tát Sở Vấn có nói: "Che giấu chỗ phạm, chẳng hay sám hối, đó là ma chướng. Tu Bồ Tát hạnh, khởi tâm ganh ghét, đó là ma chướng. Xẻn tiếc Phật Pháp, đó là ma chướng. Với người phạm giới ghét bỏ khinh chê, đó là ma chướng. Thấy người phạm tội, không khuyên sám hối, đó là ma chướng".

42. Người không tụng giới - ăn phạm tội trộm.

            Trong Ngũ Bách Vấn Sự có chép: "Hỏi: Tỷ khiêu (Ni) đều không tụng giới, lại không biết các pháp yết ma mà độ đệ tử, hoặc làm Giới sư, có phạm gì không? Đáp: Người đó còn chẳng nên ăn của tín thí, huống lại độ đệ tử ư? Hỏi: Tỷ khiêu (Ni) hoặc 10 hạ, 5 hạ, mà không biết tụng giới phạm tội gì? Đáp: Nếu không biết tụng giới, hoặc ăn dùng của tín thí ngày ngày phạm tội trộm cắp". (Đại Chính. Q 24. Tr 975c).

43. Tu hạnh đối trị.

            Giới Sớ có chép: "Nói đối trị nghĩa là gì? Đối với dâm dục, chế học hạnh lìa cấu nhiễm, tu quán bất tịnh..vv. Đối với trộm cắp, chế học hạnh thiểu dục tri túc; Đối với sát sinh, chế tu hạnh từ bi lợi vật; Đối với vọng ngữ, chế tu hạnh nói lời chân thật". (Tục Tạng. Q 62. Tr 246)

44. Chớ vi phạm giới đã thụ.

            Kinh Chính Pháp Niệm có kệ rằng:

Nếu không lòng đọc tụng

Không Thiền, không Trí tuệ

Tuy có hình Tỷ khiêu

Mà chẳng phải Tỷ khiêu

Thà ăn trùng, rắn độc

Và uống nước đồng sôi

Trọn chẳng phá giới cấm

Mà ăn uống của Tăng.

            Đại Trang Nghiêm Kinh luận có kệ rằng:

Nếu hủy phạm giới cấm

Hiện đời tiếng xấu truyền

Bị mọi người coi thường

Chết đi đọa đường ác

            Đại Trí Độ luận nói: "Người phá giới, mọi người không kính trọng, nhà họ như mồ mả, người chẳng muốn đến, người phá giới mất các công đức. Ví như cây khô, người chẳng ưa thích. Người phá giới giống như sương muối hại hoa sen, người chẳng muốn thấy. Người phá giới ác tâm đáng sợ, ví như La sát. Tỷ khiêu (Ni) phá giới tuy hình dáng giống như người tốt, bên trong không có thiện pháp, tuy có cạo đầu mặc Ca sa, có cái danh là Tỷ khiêu (Ni) mà thực chẳng phải là Tỷ khiêu (Ni)".

45. Tham dục hoại Pháp thân.

            Đại Trí Độ luận có nói: "Tâm tham hay phá hoại Da - Giới, Thịt - Định, Xương - Tuệ, Tâm - Tủy vi diệu.

Ví như thuyền trong biển

Tham nặng nên đắm chìm

Phật pháp đây cũng thế

Lợi dưỡng hủy tất cả

Do tham nên cầu lợi

Được lợi càng sinh tham

Nên làm, không nên làm

Vì tham nên quên mất

Chuối tiêu nếu ra quả

Lau trúc nếu ra hoa

Như con La có thai

Đó đều là tự hại

Lợi dưỡng và tiếng tăm

Chỗ kẻ ngu ưa thích

Hay hoại các pháp lành

Như kiếm chặt đầu người

Người tham thích tích của

Như chim Kiêu yêu con

Con lớn ăn thịt mẹ

Nhiều của lại hại mình

Bố thí thì sinh phúc

Tích chứa thì họa sinh

Không của cũng không họa

Vỗ cánh bay giữa trời".

46. Trì giới - Vui bậc nhất.

            Kinh Chính Pháp Niệm có kệ rằng:

Nếu người ưa trì giới

Thì được đến Niết Bàn

Hiện tại và vị lai

Giới bạn lành bậc nhất

Công đức thường đi theo

Vì thế nên trì giới

Sợ đói, khát, hoang vắng

Giới là người cứu hộ

Giữ giới hạnh là hơn

Theo đến đời vị lai

Nếu có người trì giới

Biết quả giới như thế

Quả trì giới thanh tịnh

Như Lai nói như thế.

            Trong kinh Tăng Hộ có kệ rằng:

Trì giới vui bậc nhất

Thân không chịu các não

Ngủ nghỉ thường an vui

Ngộ thì tâm hoan hỷ

Hoan hỷ nhận người cúng

Ba y thường tri túc

Định Tuệ tu ba nghiệp

An vui ở hang núi

Thà nuốt hòn sắt nóng

Lửa đốt cháy tiêu tan

Phá giới chẳng nên nhận

Cúng dàng của tín thí.

(Đại Chính. Q 17. Tr 571b)

47. Không nhiễm sắc dục, chướng ngại Bồ đề.

            Kinh Đại Bát Nhã - Quyển 4 có ghi: "Nếu nhiễm sắc dục, sinh cõi Phạm thiên còn bị chướng ngại, huống là được đạo quả Bồ đề vô thượng ư? Vì thế Bồ Tát đoạn dục xuất gia, tu hành Phạm hạnh, hay được Vô thượng Chính đẳng Bồ đề".

48. Khuyên tu học bất vong niệm.

            Luận Địa Trì nói: "Lại nữa nên biết, người mới tu hành phần nhiều do quên mất chính niệm, mà khởi vi phạm. Nếu tương ứng với sai lầm sẽ có tội lỗi. Chẳng thể như thật ghi nhớ có tội đó là vong niệm.

            Thế Tôn nơi tâm Đại từ bi mà lưu xuất Tạng Tỳ Ni, Phật nương vào cảnh duyên mà chế giới, cảnh đã vô lượng, giới cũng vô biên. Nghĩa là tận hư không giới tình, vô tình ý chính của mười cõi thảy đều là chỗ Phật chế giới pháp. Do tác pháp truyền giới, thụ giới, người thụ lĩnh nạp giới pháp ở nơi tâm, gọi là Giới Thể. Nên biết hết thảy cảnh duyên đều là cảnh Trì - Phạm của người thụ trì. Nếu khi cảnh duyên hiện tiền chẳng thể nhớ nghĩ đến giới để cảnh tỉnh ba nghiệp, không nhớ, không giữ, không đề phòng là đứng trước vực thẳm phạm giới, đó là vong niệm. Quên mất chính niệm là nguyên nhân phát sinh tội lỗi. Nếu đối với các cảnh tài sắc… mà hay nhớ nghĩ, giữ gìn, đề phòng nhờ giới thể phát sinh tác dụng phòng phi chỉ ác mà dần dần an tĩnh được nguồn vọng tâm. Nếu chẳng chuyên chú quan sát, một chút vọng niệm vi tế phát sinh đã đầy đủ nhân phá giới"./.

                                                                                                Thượng tọa Thích Tiến Đạt

Video

Hoa Sen trong văn hóa Việt

Liên kết website

Thống kê

Quảng cáo