Danh Tăng Thủ Đô

TIỂU SỬ CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG LỢI

TIỂU SỬ

 HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG LỢI-TỰ THANH SAN, HIỆU ÔN HÒA, NHẪN NHỤC THIỀN SƯ (1925-2014)

- THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH TRUNG ƯƠNG GHPGVN

- CHỨNG MINH BAN TRỊ SỰ PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

- NGUYÊN PHÓ TRƯỞNG BAN TRỊ SỰ PHẬT GIÁO TỈNH HÀ TÂY

- NGUYÊN PHÓ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRƯỜNG TCPH HÀ TÂY.

- NGUYÊN CHÁNH ĐẠI DIỆN PHẬT GIÁO HUYỆN THANH OAI.

- NGUYÊN PHÓ CHỦ TỊCH MTTQ HUYỆN THANH OAI.

- VIỆN CHỦ TỔ ĐÌNH CHÙA THỊ NGUYÊN.

I. Thân thế.

Hòa thượng thế danh là Nguyễn Đức San, sinh ngày 29 tháng 09 năm 1925 tại thôn Thị Nguyên,Cao Dương, huyện Thanh oai,Thành Phố Hà Nội. Thân phụ ngài là cụ Nguyễn Đức Đại, thân mẫu cụ Nguyễn Thị Ngh. Hòa thượng con thứ ba trong gia đình có 4 anh em.

II. Thời kỳ xuất gia tu học.

Nhờ truyền thống tin kính Tam Bảo của ông bà tổ tiên nhiều đời, lại có túc phúc nhân duyên từ tiền kiếp nên Hòa thượng đã sớm bén duyên nơi cửa Phật. Nhờ có dì ruột của của Ngài là ni trưởng Thích Đàm Hoan xuất gia tu hành tại chùa Bằng Nha, tỉnh Hưng Yên nên Hòa Thượng đã được xuất gia từ năm 9 tuổi. Được sự dạy bảo của dì từ nhỏ, Hòa thượng đã được học những điều cơ bản của người xuất gia trong t uy nghi: Hành, trụ, tọa, ngọa đặc biệt là những bài thỉnh chuông, cúng cháo đã được ni trưởng Đàm Hoan hết lòng dạy bảo.

Trong quá trình tu hành tại chùa Bằng Nha, hoà thượng đã được ni trưởng Thích Đàm Hoan cho theo học cụ đồ nho ở thôn Độ Hà. Đến năm 14Tuổi, ni trưởng Đàm Hoan cho ngài về chùa PCốc, xã Hà hồi, huyện Thường tín, tỉnh hà đông “cũ”để  được theo tòng tăng và thụ giáo hoà thượng Thích T Nhạc-chùa Phú Cốc thuộc sơn môn tổ đình chùa Hoa Lâm Khê Hồi-Thường Tín-Hà Đông “cũ”.

Thế là từ đây ngài được theo thầy thụ giáo và hoà thượng đã sớm nhận ra cảnh thế gian là ảo mộng cuộc đời là huyễn hoá-sắc sắc-không không như cảnh vô thường cho nên Hoà thượng đã nuôi trí quyết tâm niệm cầu đạo giải thoát.

Vốn có sẵn tính hiền hoà cần mẫn giản dị, Hoà thượng đã chịu khó siêng năng học tập. Sư tổ thấy Hoà thượng có pháp khí thiền gia, do đó năm 18 tuổi được thụ giới Sa di tại chốn tổ chùa Hoa Lâm-Khê Hồi, huyện Thường Tín.

Năm 20 tuổi Ngài được tỷ khiêu, Bồ Tát giới tại tổ đình Khê Hồi, Thường Tín, Hà Đông “cũ”. Trong quá trình tu tuệ thời còn trẻ ngài đã thường xuyên rèn luyện học tập Phật Pháp và giúp đỡ cách mạng.

III. Công đức đối với đạo pháp

Năm 1946 Hòa thượng gia nhập Hội Phật giáo cứu quốc và Hội liên việt.

Ngày 3 tháng 4 năm 1959 Hoà thượng được Mặt trận tổ quốc Tỉnh Hà Đông mời tham gia họp bàn để chuẩn bị thành lập chi hội Phật giáo thống tỉnh Hà Đông. Tại đại hội Phật giáo nhiệm kì I năm 1959 tỉnh Hà Đông, Hòa thượng được đại hội bầu làm ủy viên Ban trị sự kiêm phó thư ký tỉnh hội.

Để nâng cao kiến thức Phật pháp, năm 1961, Hòa thượng đã tham gia lớp tu học Phật pháp Trung ương an cư kết hạ tại chùa Quán Sứ. Tại đây, Hòa thượng đã cùng tăng ni đi ra sân bay đón tiếp tăng thống Lào về chùa Quán Sứ lễ Phật góp phần tạo nên mối quan hệ hữu nghị Việt – Lào muôn năm.

Từ năm 1959-1982, Hòa thượng liên tục là ủy viên Ban trị sự chi hội Phật giáo thống nhất tỉnh Hà Tây với những nhiệm vụ như: Phụ trách Phật giáo 2 huyện Thanh Oai và Chương Mỹ, phụ trách mảng văn hóa, từ thiện và nghi lễ. Dù ở cương vị nào, Hòa thượng cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nên đã tạo được niềm tin trong giáo hội và tín đồ Phật tử.

Năm 1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập thống nhất các hệ phái Phật Giáo trong cả nước. Tại đại hội đại biểu Phật giáo Hà Sơn Bình lần thứ nhất (1982-1987), Hòa thượng được bầu làm ủy viên ban trị sự, Thư ký ban đại  diện Phật giáo huyện Thanh Oai.

Từ năm 1987-2002, qua các kỳ đại hội lần thứ II, III, IV của Phật giáo Hà Tây, Hòa thượng đều đảm nhiệm chức vụ ủy viên ban trị sự Phật giáo tỉnh, Chánh đại diện Phật giáo huyện Thanh Oai.

Tại đại hội Phật giáo tỉnh Hà Tây lần thứ V (2002-2007), Hòa thượng được bầu làm Phó trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Hà Tây, trưởng ban nghi lễ tỉnh hội.

Ngày 5 tháng 12 năm 2002 tại đại hội Phật giáo toàn quốc, ngài được tấn phong hàng giáo phẩm Hoà thượng. Năm 2007, hoà thượng được bầu làm hiệu phó trường TCPH Hà Tây.

Năm 2008, sau khi Hà Tây và Hà Nội hợp nhất, Hòa thượng được suy cử làm chứng minh ban trị sự Phật giáo Thành Phố. Năm 2012, tại đại hội Phật giáo toàn quốc, Hòa thượng được suy cử là thành viên Hồi đồng chứng minh trung ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Chứng minh ban trị sự Phật giáo thành phố Hà Nội.

Năm 1954, ứng theo lời thỉnh nguyện của nhân dân, Phật tử thôn Úc Lý, ngài đã trụ trì, tu bổ, giáo hóa, hướng đạo cho Phật tử tại chùa Úc Lý. Năm 1978, khi đã vãn niên, nặng lòng với quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, Hòa thượng đã về chùa Thị Nguyên trụ trì, tu bổ chùa cảnh ngày càng khang trang, tráng lệ. Tại chùa Thị Nguyên, những dấu ấn các công trình: Nhà tổ, nhà mẫu, nhà khách, cổng chùa, tường bao, vườn tháp v.v... mãi mãi còn lưu dấu công lao của Hòa thượng.

Hoà thượng đã làm thầy quy y cho nhiều đạo hữu Phật tử thiện nam, tín nữ, và tín đồ Phật tử tại gia, cụ thể như: chùa Phổ Quang-xã Phú Túc-huyện Phú Xuyên; chùa Úc Lý-xã Thanh Văn-huyện Thanh Oai, chùa chuông-xã Phương Trung-huyện Thanh Oai-TP.Hà Nội.

Để giúp tăng ni yên tâm an cư hành đạo, từ năm 1999 đến nay, Hòa thượng được thỉnh giữ ngôi vị đường chủ tại hạ trường Vũ Lăng. Với đức hạnh và sự giáo hóa của Hòa thượng trong những ngày khai pháp, tạ pháp, Tăng ni các huyện Thanh Oai, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Mỹ Đức được an lạc, giải thoát, tinh tiến hơn trong đời sống tu hành tại điểm an cư kết hạ.

Qua giới hạnh trang nghiêm, thanh tịnh mô phạm chốn Tùng lâm, nên từ năm 2007 đến nay, Hòa Thượng đã được thỉnh làm Giới sư truyền giới trong các Giới đàn của Tỉnh, thành hội Phật giáo tổ chức.

Với những đóng góp to lớn cho Phật pháp như vậy, Hòa thượng đã được các cấp giáo hội nhiều lần tặng bằng tuyên dương công đức. Có thể nói, cả đời hòa thượng sinh ra là để cống hiến cho đạo pháp, cho chúng sinh.

IV. Công đức đối với xã hội

Hòa thượng xuất gia tu hành theo Đạo Phật nên thấm sớm thuấn nhuần tư tưởng “Nhập thế” của Bồ tát đạo. Vì vậy, không những Hòa thượng đã làm tròn bổn phận của người Xuất gia đối với đạo pháp mà đối với xã hội, Hòa thượng còn làm tròn bổn phận của một công dân gương mẫu.

Từ năm 1946-1954, Hòa thượng trụ trì chùa Dưỡng Hiền thuộc xã Hòa bình, huyện Thường Tín, Trong thời gian này cả nước đang tích cực kháng chiến chống Pháp, Hòa thượng đã đóng góp nhiều công lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 1946, Hòa thượng đã tham gia và là thành viên của hội Liên Việt để góp phần vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Tại chùa Dưỡng Hiền, Hòa thượng đã cho đào hầm để nuôi dấu cán bộ. Hàng ngày, giặc Pháp đi càn quét, mặt đối mặt với địch nhưng Hòa thượng vẫn thể hiện tinh thần đại hùng, đại lực để nuôi dấu bộ đội, lúc bí mật, lúc công khai góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Năm 1954, Hòa thượng chính thức về trụ trì chùa Úc Lý. Trong giai đoạn từ năm 1954-1978, tại chùa Úc Lý, Hòa thượng đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Năm 1966, Hòa thượng đã cho bộ tư lệnh phòng không không quân về đóng quân tại nội tự chùa Úc lý. Trong một bức thư của đại đội phó Phạm Văn Tú đã viết về Hòa thượng: “...Sư ông San rất thương chiến sĩ, không ngày nào mà chiến sĩ đơn vị không quần tụ tại chùa. Sư ông thông cảm cuộc sống chiến đấu của chiến sĩ một cách sâu sc–Nói sao cho hết nhiệt tình của sư ông đối với cách mạng, đối với quân đội... Chúng tôi rất cảm động trước lúc xa rời sư ông, nhớ sư ông, cảm ơn sư ông. Tôi thay mặt thủ trưởng đơn vị ghi vào giấy mấy lời cảm tưởng mộc mạc, chân thành của quân đội. Chúc sư ông nhiệt tình hăng hái hơn nữa trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của Đảng ta.”

Hơn nữa, trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Hòa thượng đã đóng góp nhiều công sức như: năm 1968 Hòa thượng đã ủng hộ Huyện Thanh oai nhiều hầm tránh bom. Năm 1969 Hòa thượng đã làm nhà thương binh ở Ba Vì, ủng hộ tre và giường cho thương binh, ủng hộ 10 bộ bàn ghế cho các cháu nhà trẻ Úc Lý, Tại chùa Úc Lý, Hòa thượng đã dựng lán làm trường cho các cháu sơ tán học, ủng hộ hợp tác xã Thanh Văn 10 bộ áo quan để mai táng những người bị bom đạn mỹ giết hại.

Trong suốt thời gian chống Pháp, chống Mỹ, hòa thường đã được nhân dân tín nhiệm, đảng, nhà nước tin tưởng giao cho Hòa thượng nhiều nhiệm vụ xã hội nặng nề mà cao quý.

Năm 1966-1981, hòa thượng được huyện ủy Thanh Oai, đảng ủy xã Thanh Văn bầu giữ chức chủ tịch mặt trận tổ quốc xã Thanh Văn.

Từ năm 1969, hòa thượng còn kiêm nhiệm nhiều chức vụ trong xã Thanh Văn như: Chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng, trưởng ban phụ lão xã. Trong thời gian này, Hòa thượng đã là thành viên cấp ba của huyện trong việc vận động nhân dân tiết kiệm chống Mỹ cứu nước.

Trong các nhiệm kỳ đại hội mặt trận tổ quốc huyện Thanh Oai (1968-1975) hoà thượng liên tục được bầu làm phó chủ tịch uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Thanh Oai.

 Trong vai trò là phó chủ tịch Mặt trận tổ quốc huyện Thanh Oai, Hòa thượng đã có nhiều đóng góp trong việc vận động Tăng ni và Phật tử tham gia, ủng hộ công sức, tiền của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Từ 1975 đến nay, Hòa thượng liên tục được bầu là thành viên của Ủy ban mặt trận tổ quốc huyện Thanh Oai.

Tại đại hội đại biểu hội chữ thập đỏ huyện thanh Oai (1987-1992), hòa thượng được bầu vào ban chấp hành hội chữ thập đỏ của huyện Thanh Oai.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của mình, hòa thượng luôn hoàn thành các công việc mà đảng, nhà nước giao phó. Hòa thượng đã đem tinh thần: Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác (Đem đạo vào đời, lấy đời giúp đạo) vào cuộc sống tu hành của mình. Vì vậy, hòa thượng đã được đảng, chính phủ, nhà nước, tặng nhiều phần thưởng cao quý:

- Kỷ niệm chương chống Pháp

- Huy chương chống Pháp

- Huân chương kháng chiến chống Mỹ

- Huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân

- 1 huy chương hội chữ thập đỏ

- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng năm 1967

- 2 bằng của Mặt trận tổ quốc Trung ương tặng năm 1969

- 8 bằng của MTTQ tỉnh Hà Đông, Hà Tây, Hà Sơn Bình.

- Bằng khen của hội chữ thập đỏ trung ương tặng năm 2002.

- 1 huy hiệu kỷ niệm 50 năm hội chữ thập đỏ quốc tế.

- 1 huy hiệu phụ lão 3 giỏi

- 1 huy hiệu của ngân hàng... và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Trong suốt cuộc đời mình hoà thượng đã hiến dâng trọn đời cho đạo pháp, chúng sinh và xã hội. Vì vậy, hoà thượng đã được tăng ni Phật Tử ngưỡng mỗ quý trọng, chính quyền các cấp nề vì.

Với những đóng góp đó, ngày 1 tháng 7 năm 1967, Hoà Thượng chính thức là thành viên của đảng lao động Việt Nam, nay là đảng Cộng sản Việt Nam

-Đối với quê hương.

Hoà thượng sinh ra từ làng Thị Nguyên một vùng quê nho học, trọng nghĩa nặng tình, xuất gia tu hành từ năm 9 tuổi đến khi trưởng thành trở thành nhà tu hành có chức sắc cao trong đạo Phật. Thể theo nguyện vọng của dân làng, Hoà thượng trở về với đất mẹ, trụ trì chùa Thị Nguyên từ năm 1978, với trình độ và năng lực về Phật Pháp, cũng như đức hạnh của mình, Hoà thượng đã giáo hoá cho Phật tử và chúng sinh luôn luôn sống tốt đời đẹp đạo, là chỗ dựa tâm linh hướng thiện tạo sự gắn kết cộng đồng làng xã góp phần làm nên cuộc sống bình an, hạnh phúc cho mỗi gia đình.

Hoà thượng thường giáo hoá với mọi người vào lễ Phật xuất phát từ tâm. Không nên đốt vàng mã tốn kém tiền bạc, không nên mê tín dị đoan. Không nên xa hoa, lãng phí. Có như vậy Phật mới chứng giám tấm lòng của Phật tử. Không những thế Hoà thượng còn là tấm gương mẫu mực về lao động, cần kiệm, tích cực vận động tăng ni, tín đồ Phật tử cùng nhân dân góp công, góp sức, tôn tạo cảnh chùa khang trang, sạch đẹp chở thành nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh văn minh, lịch thiệp.

Là một nhà tu hành lại có chức sắc cao trong đạo Phật, nhưng hoà thượng không bao giờ quên ơn dưỡng dục sinh thành của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, họ hàng, làng xóm nội ngoại. Luôn thể hiện lòng hiếu thảo, sự quan tâm giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt đối với những người khó khăn hoạn nạn.

Hoà thượng luôn là tấm gương mẫu mực hiếu nghĩa vẹn toàn. Hoà thượng đặc biệt quan tâm đến giáo dục các thế hệ con cháu nội ngoại, sống giản dị trong sạch, lành mạnh có trách nhiệm. Trong đó, có cháu Nguyễn Đức Tuệ được hoà thượng nuôi dưỡng từ nhỏ đến lúc trưởng thành. Vào lúc khó khăn nhất của cuộc kháng chiến cứu nước Hoà thượng đã không ngần ngại hy sinh tình cảm riêng, động viên cháu lên đường tòng quân chống mỹ cứu nước. Với tình cảm gia đình, truyền thống quê hương, cháu Tuệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, và trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, của quân đội. Là niềm tự hào cho gia đình và quê hương.

V. Thời kỳ viên tịch.

- Những tưởng Hòa Thượng trên bước đường phục vụ Đạo pháp và chúng sinh, còn tiếp tục  đóng góp nhiều hơn nữa. Nhưng nhân mệnh vô thường, Năm 2013 Hòa Thượng trở bệnh, mặc dù đã được các y bác sĩ, sơn môn pháp quyến, con cháu của cụ tận tình chữa trị, nhưng không thuyên giảm. Thế rồi, Hòa Thượng đã thuận lý vô thường, an nhiên thị tịch vàolúc 19h45, ngày 27 tháng 12 năm 2014, Trụ thế 90 năm. Giới lạp:70 năm.

Thế là Hoà thượng đã từ bỏ huyễn thân, trở về thế giới Niết Bàn vô tung bất diệt, về thế giới Tây Phương Cực Lạc hầu Phật tổ A Di Đà, nhưng công đức và đạo hạnh của Hoà thượng vẫn toả sáng trong tâm tư, ký ức của Tăng Ni Phật tử gần xa và ngôi chùa Thị Nguyên nơi Hoà thượng an nghỉ ngàn thu.

NAM MÔ CHÂN NGUYÊN THÁP BẢO THÁP, MA HA SA MÔN TỶ KHIÊU BỒ TÁT GIỚI PHÁP HÚY THÍCH QUẢNG LỢI, TỰ THANH SAN, ĐẠO HIỆU ÔN HÒA, NHẪN NHỤC GIÁC LINH THIỀN TOẠ HẠ.

Video

Hoa Sen trong văn hóa Việt

Liên kết website

Thống kê

Quảng cáo