Lịch sử

Vai trò của Ni giới trong quá trình phát triển Phật giáo Thủ đô

Thăng Long - Hà Nội là vùng đất địa linh nhân kiệt, có bề dày văn hóa lịch sử lâu đời. Từ xa xưa nơi đây đã quy tụ biết bao nhân tài hào kiệt. Trong số ấy có không ít các bậc danh Tăng Phật giáo. Từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc - Nam sum họp một nhà, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thống nhất, Phật giáo Thủ đô có thêm điều kiện thuận lợi, tiếp nối mạng mạch truyền thống tốt đẹp, phát triển đi lên về mọi mặt và đã trở thành một trong những trung tâm quan trọng của Phật giáo Việt Nam. Được sự quan tâm củaTrung ương Giáo hội và Thành hội Phật giáo Hà Nội, Ni giới Thủ đô luôn nỗ lực không ngừng, đồng lòng phát nguyện chung sức xây dựng Giáo hội trong suốt một chặng đường 30 năm qua.

1. Ni giới với Phật giáo Thủ đô thời kỳ trước năm 1981

Với tấm lòng thành tâm khẩn cầu của Di Mẫu Ma-ha Ba-xà ba-đề và 500 vị nữ trong hoàng tộc dòng họ Thích, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đáp lời thỉnh cầu của ngài A Nan cho phép người nữ xuất gia, hội chúng Tỳ-khiêu Ni ra đời từ đấy. Hệ thống Tăng đoàn của Phật giáo có đầy đủ tứ chúng từ đây. Đức Phật dạy, người nữ tu theo chân lý Phật Đà  hoàn toàn có thể được giải thoát và chứng đắc quả vị Về sau đã có nhiều vị Tỳ-khiêu -Ni, nữ cư sĩ chứng đắc từ quả Tu-đà-hoàn đến quả vị A-la-hán. Ni giới đã có những đóng góp tích cực đối với việc hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sinh trong suốt chiều dài lịch sử của Phật giáo Việt Nam.

Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, Đạo Phật truyền bá khắp nơi và đã hiện diện trên đất nước Việt Nam từ cách đâytrên 2000 năm. Đặc biệt, các bậc danh Ni Việt Nam cũng xuất hiện từ rất sớm, có nhiều đóng góp trong lịch sử Phật giáo nước nhà nói chung và Phật giáo Hà Nội nói riêng. Cùng thời với công chúa Bát Nàn, Thiều Hoa, Vĩnh Huy…còn có công chúa Phương Dung mà hiện nay có đền thờ ở Thanh Trì - Hà Nội đã cùng Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm. Sau khi tham gia đấu tranh giành độc lập cho đất nước, các vị đã nương vào chốn Thiền môn để sống đời sống phạm hạnh thanh cao. Thời Lý có Ni sư Diệu Nhân (1041-113) là bậc mẫu mực trong hàng Ni chúng thời bấy giờ. Người vốn xuất gia học đạo với Thiền Sư Chân Không thuộc đời thứ 17 của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Khi đắc pháp Ni sư được bổ nhiệm giữ chức viện chủ Ni viện Hương Hải.

Thời Trần có Ni sư Tuệ Thông được vua ban hiệu Tuệ Thông Đại Sư…Có thể nói các bậc danh ni Phật giáo Hà Nội thuở xưa thời nào cũng có, công trạng của các ngài được lưu truyền đến muôn đời, lượng nhiều khôn xiết.

Trải qua thời gian thăng trầm của đất nước, Ni giới Thủ đô luôn tiếp nối truyền thống xưa, gắn bó cùng với vận của mệnh dân tộc. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đất nước lâm vào cảnh ngoại xâm, xã hội loạn lạc, Phật giáo suy vi. Trong tình hình ấy, các vị Ni đã tích cực tham gia đấu tranh chống quân xâm lược, và chấn hưng Phật giáo trên các phương diện giáo lý, Giáo hội, tín đồ và tông phái. Các vị danh ni ở Hà Nội thời kỳ này không thể không nhắc tới là Ni trưởng Đàm Thu (1885-1967) - Ni trưởng là bậc danh ni tài đức, xuất gia tại chùa Khuyến Lương (Thanh Trì - Hà Nội), được tu học Phật pháp với các bậc danh Tăng như Hòa thượng Tố Liên, Hòa thượng Trí Hải. “Thời chống Pháp, Ni trưởng tham gia ký tên kêu gọi thực dân Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Ni trưởng từng làm Thập sư Ni truyền giới, giảng dạy tại các trường hạ và tổ chức các khóa hạ an cư tại chùa Hai Bà Trưng”.

Ni trưởng Đàm Soạn - Trụ trì chùa Thanh Nhàn - Từ Hàng - Đức Viên là vị ni đầu tiên được mời vào cung thuyết giảng cho hoàng hậu, phi tần và nữ quan nhà Nguyễn. Mỗi năm Ni trưởng thường vào Huế giảng dạy 3 tháng. Người còn tích cực ủng hộ Hội phụ nữ Phật tử Dược Sư Gia Định hiến cúng chùa để thành lập Ni trường. Năm 1949 Trường Ni học mang tên Khuông Việt đặt tại chùa Vân Hồ được thành lập. Ni trưởng làm giám học và Quản chúng. Chương trình học của trường ngoài nội điển còn học chữ Hán, Phật học phổ thông và làm tiểu thủ công nghệ. Quá trình giáo dục ni giới đã tích cực góp phần chấn hưng Phật giáo. Năm 1950 khi cải tổ Hội Tăng Ni Bắc Việt, Ni trưởng tham gia vào Ủy ban Tài chính

 Ni trưởng Đàm Hữu (1911-1981) vốn xuất gia ở miền Nam. Trong thời gian chống Mỹ, Ni trưởng tích cực xông pha trận mạc tiếp tế lương thực. “Ni trưởng là một bậc Giới sư ni đức độ của các đại giới đàn miền Bắc.

Ni trưởng Đàm Tín (1899-1982) - tỉnh Hà Tây cũ, trong thời loạn lạc, Ni trưởng vẫn luôn giữ chí nguyện hộ trì Tam Bảo, hướng dẫn người tu học, độ được rất nhiều đồ chúng xuất gia tại gia. Ni trưởng còn đi nhiều nơi khai mở những vùng đất hoang thành Già lam thắng địa. Người là bậc Hòa thượng ni nổi bật của các tỉnh miền Bắc, có năng lực chấn chỉnh Ni giớivà  làm Hòa thượng Đàn đầu, Tuyên luật sư của các Đại giới đàn ni. Còn nhiều tấm gương ni giới điển hình khác, có nhiều đóng góp cho Tổ quốc và Giáo hội, được tôn vinh nhiều danh hiệu cao quý như: liệt sĩ Ni sư Thích Đàm Hiền (Quốc Oai), Bà mẹ Việt Nam anh hùng Ni sư Thích Đàm Thái (Thường Tín), Ni trưởng Đàm Tân (Mỹ Đức), Ni trưởng Đàm Mùi (Hoài Đức)…Đây chỉ là điểm xuyết một số bậc danh ni, còn vô vàn các vị ni trong hàng Ni giới đã có nhiều đóng góp tích cực cho Phật giáo Thủ đô giai đoạn trước năm 1981.

Đội ngũ Ni giới ngày càng nhiều và từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình đối với Phật giáo Thủ đô, đã gieo được nhiều thiện duyên tốt lành trong lòng nhân thế, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết. Công lao của các vị trải khắp các mặt từ việc tham gia tổ chức giáo hội, xây dựng chùa chiền, hoằng pháp, từ thiện xã hội đến tham gia công cuộc vệ quốc vĩ đại, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

2. Những đóng góp của Ni giới với Phật giáo Thủ đô giai đoạn 1981 - 2011

            Sau khi đất nước hoàn toàn được giải phóng, non sông thu về một mối, cơ duyên hội đủ, năm 1981 Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập. Các vị chư Ni luôn có mặt trong cộng đồng Tăng già, sống trong lòng Giáo hội và không ngừng phát huy khả năng của mình đóng góp cho sự phát triển của Phật giáo. Tiếp nối mạng mạch xưa của các vị Ni tiền bối,trài qua 30 năm, Ni giới Hà Nội luôn luôn phát huy, trách nhiệm nỗ lực cùng góp sức để đưa Phật giáo Thủ đô đi lên không ngừng trong nhiều mặt trọng yếu.

aPhát triển số lượng, đào tạo tăng tài và hoàn thiện tổ chức Ni giới

Ni giới Thủ đô để có được như ngày hôm nay phải kể đến các bậc danh ni đã có nhiều công lao đóng góp cho sự phát triển chung của Giáo hội như cố ni trưởng Thích Đàm Đễ chùa Lủ, Đàm Tiến chùa Hương Tuyết, Đàm Phúc chùa Hòe Thị, Đàm Bình chùa Xã Đàn, Đàm Thanh chùa Tây Phương, Đàm Loan ( Đan Phượng )vv... còn các bậc Ni trưởng hiện nay như Ni trưởng Thích Đàm Hảo chùa Hoàng Mai, Đàm Nhâm chùa Linh Đường, Đàm Độ chùa Văn Thượng, Đàm Phương chùa Đống Tranh, Đàm Hằng chùa Đa Bảo và còn nhiêu các bậc Ni trưởng, Ni sư ở các Quận Huyện. Sự đóng góp của các bậc danh ni và sự tạo điều kiện của chư tôn đức tăng  đã giúp cho Ni giới Thủ đô luôn thắp sáng niềm tin, giữ vững giềng mối giới luật tu hành, đội ngũ ni chúng Phật giáo Thủ đô ngày càng phát triển về số lượng và đảm bảo chất lượng. Theo thống kê sơ bộ, trên địa bàn Thủ đô hiện nay có: 1.224 Tỷ khiêu ni, 93 vị Thức xoa - Sa di ni và 102 vị Hình đồng ni đang tu học tại 730 ngôi chùa thuộc 29 quận, huyện. Trong đó có: 30 Ni trưởng, 45 Ni sư. Toàn thành phố có 29 quận Huyện thì có 07 vị Ni là Chánh Ban đại diện của các Quận Huyện. Thực hiện phương châm của Giáo hội “tiếp dẫn hậu lai -báo Phật ân đức”, hàng năm ni chúng đã được Ban trị sự Thành hội tổ chức giới đàn cầu giới cho trên 40 vị Tỷ khiêu ni và trên 45 vị Sa di ni, Thức xoa Ma na.

 Thực hiện lời Phật dạy “Tỷ khiêu chi yếu vụ” để duy trì Tỳ Ni Luật Tạng, nhằm trưởng dưỡng đạo Tâm, trang nghiêm Giáo hội, tu tập Tam vô lậu học, giữ gìn quy củ thiền gia, hàng năm đến mùa an cư kết hạ, ni chúng đều thu xếp công việc trụ xứ để tòng tăng an cư tại các cơ sở tiền và hậu an cư trên địa bàn. Đội ngũ Ni giới cũng không ngừng tu học trình độ Phật học và thế học để phục vụ đạo pháp và dân tộc. Hiện nay, ni chúng Thủ đô có 80 Ni sinh đang theo học tại Học viện Phật giáo Việt Nam, 150 Ni sinh tham dự học tại trường Trung cấp Phật học Hà Nội, 15 vị tham gia học tại Trường Cao đẳng thuộc Học viện Phật giáo, 5 vị du học tại Ấn Độ và Đài Loan, Trung Quốc.  6 vị là thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học, 250 vị đã tốt nghiệp cử nhân Phật học các khóa II,III,IV, 300 vị tốt nghiệp Trung cấp Phật học các khóa và 50 vị tốt nghiệp Cao đẳng Phật học khóa I, II. Ngoài ra, tại mỗi ngôi chùa, các vị nghiệp sư đều hướng dẫn dạy các chương trình Phật học cơ bản, uy nghi, kệ chú thường dùng, khóa lễ, khóa niệm cho người mới xuất gia làm nền tảng cơ bản cho quá trình giáo dục ni đoàn của Thành hội.

Trước năm 1981, Ni giới Việt Nam đã có những tổ chức tập hợp Ni chúng như Ni giới Nam Việt, Ni giới Bắc Tông. Tuy nhiên các tổ chức còn mang tính vùng miền. Từ sau khi Giáo hội thống nhất, để tạo điều kiện cho Ni giới ngày càng phát triển đóng góp nhiều hơn nữa cho Giáo hội và xã hội. Ngày 4/11/2008 quyết định thành lập Phân ban Đặc trách Ni giới Trung ương được chuẩn y và ngày 1/1/2009, Phân Ban chính thức ra mắt tại Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thực hiện chủ trương của Trung ương Giáo hội, đáp ứng nhu cầu phát triển ni giới và hoàn thiện tổ chức Phật giáo Thủ đô, Ni giới Hà Nội đã được sự giúp đỡ hướng dẫn của chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo Thành hội Phật giáo Hà Nội, ngày 12/3/2009, nhân sự của Phân Ban chính thức được bổ nhiệm. Sự thành lập Phân Ban đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình thống nhất cao về công tác Phật sự của Thành hội nói chung và Ni giới nói riêng. Đồng thời nó cũng góp phần hoàn thiện tổ chức Phật giáo ở cấp Thành Phố. Điều này đã chứng minh Ni giới Thủ đô ngày càng có tiếng nói của mình trong việc phát triển Phật giáo Hà Nội, là một trong những thành viên đáng tin cậy trong đại gia đình Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở việc tham gia các tổ chức chuyên dành cho ni chúng, các vị còn tham gia xây dựng Thành hội Phật giáo, hầu hết ở ban nào cũng có sự góp sức của các vị ni.

bHoằng dương Phật pháp, xây dựng, tu bổ và bảo tồn chùa cảnh

Tại các cơ sở tự viện ni giới vẫn thường xuyên tổ chức các buổi thuyết giảng, sinh hoạt đạo tràng vào những ngàymồng 1, ngày 15, ngày Giỗ Tổ và các ngày lễ lớn trong năm. Các chùa đã thuyết giảng giáo lý đạo Phật, tổ chức hội trại về nguồn, giảng giải ý nghĩa của các buổi lễ và các chuyên đề Pháp thoại góp phần giáo dục cho các Phật tử hướng theo Chân-Thiện-Mỹ. Ni giới đã tích cực đổi mới, hiện đại hóa phương pháp truyền giảng giáo lý. Nhiều phương tiện hiện đại đã được sử dụng để tiến hành Pháp thoại như băng hình, tạp chí, văn nghệ quần chúng, ngôn ngữ kinh điển được truyền tải theo hướng dễ gần dễ hiểu, bài trừ những hủ tục mê tín dị đoan … Những ngày lễ được tổ chức tiết kiệm trang nghiêm, không kéo dài ảnh hưởng đến thời gian của mọi người.

Qua thời gian, do sự phong hóa của thiên nhiên bào mòn, tàn tích của chiến tranh để lại, nhiều cơ sở tự viện trên địa bàn Thành phố bị xuống cấp. Được sự giúp đỡ của các cơ quan hữu trách, chư tôn Đức ni đã cùng với nhân dân Phật tử kiến tạo trùng tu rất nhiều các cơ sở tự viện. Đặc biệt trong năm 2010, một số chùa đã được nhà nước quan tâm trùng tu chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội như: chùa Bộc, chùa Trăm Gian, chùa Tây Phương, chùa Mía, chùa Kim Liên, chùa Vân Hồ…Việc xây dựng, trùng tu chùa cảnh, tô tượng, đúc chuông có ý nghĩa rất quan trọng. Từ đó góp phần bảo vệ di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh di tích lịch sử của dân tộc, xây dựng bễn vững trụ xứ làm nơi tu tập, ươm mầm trí tuệ, đào tạo ni tài cho Giáo hội, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng cho nhân dân, Phật tử.

c. Phát huy truyền thống gắn bó với dân tộc, tinh thần từ bi cứu khổ và đạo lý nhân bản của người Việt Nam

Thực hiện lời Phật dạy “Phục vụ chúng sinh là cúng dàng chư Phật”, tiếp nối truyền thống yêu nước, theo phương châm “Đạo Pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa xã hội” của Giáo hội, ni chúng Thủ đô luôn hoàn thành tốt mọi Phật sự ích đời lợi đạo, xây dựng nếp sống văn hóa trên địa bàn dân cư nơi mình cư trú, đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền, tham gia các công tác xã hội như: Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc,  Hội đồng nhân dân, Hội chữ thập đỏ các cấp... Nhiều vị đã được Nhà nước và các Ban ngành tặng thưởng huân, huy chương, kỷ niệm chương, bằng khen, giấy khen và nhiều phần thưởng cao quý khác. Điều đó thể hiện truyền thống Hộ quốc an dân của ni giới Phật giáo Thủ đô, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

Trên tinh thần từ bi cứu khổ và truyền thống nhân bản của người Việt Nam, ni giới Thủ đô tích cực thực hiện công tác từ thiện xã hội. Đây là hoạt động thường xuyên mang tính đạo đức trong sáng tích cực, là công tác trọng tâm của Giáo hội nói chung và của mỗi người con Phật nói riêng. Vì thế công tác từ thiện được tất cả cơ sở tự viện đều quan tâm, hưởng ứng mọi cuộc vận động từ thiện cứu trợ đồng bào gặp thiên tai, tặng nhà tình nghĩa, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, khám chữa bệnh nhân đạo, giúp dỡ những người có hoàn cảnh khó khăn…

3. Kết luận

Như vậy, Ni giới không chỉ có vai trò trong sự phát trin Phật giáo Thủ đô về mặt đạo pháp mà còn tiếp tục phát huy truyền thống nhập thế. Luôn giữ gìn thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa của dân tộc và của Phật giáo trong thời kỳ đổi mới. Ni giới đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình, có những đóng góp nhất định trên nhiều phương diện quan trọng của giáo hội và đồng hành cùng dân tộc, góp phần cùng Phật giáo Thủ đô trong suốt 30 năm qua.

Để có được những thành tích đáng quý ấy, ngoài nền tảng truyền thống cùng với sự cố gắng nỗ lực, tinh thần trách nhiệm với Phật giáo của ni giới, còn có sự trợ duyên của nhiều yếu tố khác. Trước hết đó là sự giúp đỡ, hướng dẫn của chư tôn thiền đức Tăng Ni lãnh đạo Giáo hội, sự ủng hộ của nhân dân Phật tử. Đặc biệt, đường lối, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới đã góp phần tác động thay đổi sâu sắc diện mạo tôn giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng, trong đó có Phật giáo Thủ đô. Hơn nữa bản thân Phật giáo có nhiều điểm ưu việt trong thời đại mới với những tiến bộ về khoa học và công nghệ, càng khẳng định con đường chân lí trí tuệ mà Đức Phật ngài đã thuyết giảng trước đây luôn luô vẫn song hành tồn tại trên thế gian.

Tuy nhiên, vai trò Ni giới Thủ đô cũng còn những hạn chế nhất định. Ba mươi năm đã trôi qua, quý tôn đức Ni cònrất ưu tư về mặt đào tạo ni trẻ trong thời đại mới. Mặc dù từ sau khi đất nước độc lập, môi trường tu học đã ngày càng được chú trọng nâng cao. Nhưng nhìn chung ni giới Hà Nội với vị trí là một trong những trung tâm Phật giáo hàng đầu của cả nước và lại nằm trên địa bàn Thủ đô, thiết nghĩ ni giới cần phát huy nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao trình độ Phật học cũng như thế học, để góp sức của mình xây dựng, phát triển Giáo hội và đất nước trong thời đại mới. Trong thời kỳ hiện nay với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với Phật giáo nói chung và Ni giới nói riêng, nhất là những mặt trái của nền kinh tế thị trường đang len lỏi tới từng tổ chức, cá nhân trong xã hội. Ni giới cần tiếp tục tu học nâng cao trách nhiệm, cảnh giác hơn nữa để rũ bỏ và đấu tranh với những tác động, cám dỗ và biểu hiện xấu. Về mặt tổ chức chuyên trách của ni giới còn nhiều hạn chế, hoạt động chưa thống nhất, địa bàn lại rộng nên rất khó quản lý và quan tâm tới tất cả ni chúng được. Không những vậy, do tính chất sơn môn hệ phái cố hữu từ lâu, cho nên việc thống nhất hành động chung đôi khi còn chưa cao.

Hy vọng rằng Ni giới Hà Nội sẽ không phụ lòng tin của Chư tôn Thiền Đức TW Giáo hội, Thành hội Phật giáo Hà Nội, không phụ những hạnh nguyện của các bậc tiền nhân đã trao truyền. Ni giới cần nêu cao trách nhiệm và nghĩa vụ hơn nữa để không ngừng góp phần của mình đóng góp cho Giáo hội, cho Phật giáo Thủ đô ngày càng tinh tiến đi lên. Và chúng con cũng rất mong nhận được sự quan tâm nhiều hơn nữa của Chư tôn Thiền đức Tăng trong Thành hội Phật giáo Hà Nội.

 

 
Tác giả: Phân ban đặc trách Ni giới
Nguồn tin: Văn phòng Thành hội

Video

Hoa Sen trong văn hóa Việt

Liên kết website

Thống kê

Quảng cáo